Chuyện đời lính
Hôm nay được rảnh rỗi chút, xin kể cho các bạn nghe những mẩu chuyện nhỏ về 2 ngọn núi nổi tiếng ở Campuchia.
NÚI KULEN HAY CÒN GỌI LÀ NÚI VẢI.
Đây là một ngọn núi nổi tiếng, gọi là núi nhưng thực ra tôi thấy nó chỉ cao hơn những quả đồi cao miền Trung du, Bắc bộ Việt Nam tý chút. Cách Siemriep chừng 4 – 50 cây số.
Từ Siem rieep đi qua Angkor theo hương Srenoy, qua Kulen tới Srenoy… hoặc có thể đi từ ngã ba Rolu thẳng vào Tbaeng đường xấu và khó đi vô cùng.
Nói tới Kulen chắc chắn nhiều cựu binh K vẫn còn nhớ những căn cứ Khơmer đỏ trên ngọn núi này. Tôi chỉ được đi qua nơi này khi các bác cựu đi trước mở đường chứ không được “vinh hạnh” tham chiến trận nào ở đây, máu người lính Việt Nam đổ ở đây khá nhiều…
Khi tôi qua, chỉ có rừng già hoang vu những hố đạn pháo, công sự hầm hào, căn cứ đổ nát cùng xương trắng và vải đen… của pọn polpot sót lại, thỉnh thoảng lại gặp ở rừng sâu những bãi xương người nhìn xa như một bãi củi khô vàng…
Tôi từng nghe anh em kể khá nhiều về nơi này, nhưng ấn tượng nhất vẫn là mìn, mìn dày đặc như trấu nhiều tới nỗi sau khi qua đó, chúng tôi đều trở thành “thiện xạ về gỡ mìn”. Chúng tôi gom lại từng đống mìn rồi kích nổ vang rừng.
Bây giờ thì tôi không biết vì đã lâu không quay lại đó, còn hồi đó thì chỉ có một con đường để lên đỉnh nuí, quanh co hiểm trở và chết chóc.
Ở đó rất nhiều cây vải, chắc có lẽ vì vậy nên núi có tên núi Vải. Khỉ vượn hàng đàn đậu đen cả cây, chúng phá tan hoang nơi nào chúng đi qua.
Địa hình nơi này là một loạt đồi nối tiếp nhau thoai thoải có một đỉnh cao nhất là Mahenda, anh em tôi vẫn đùa với nhau là Đồi “ma rên la” vì nhiều hiện tượng ma quái ở đó.
Nhiều tàn tích đổ nát còn sót lại thì nó như một thành phố cổ xưa lắm rồi, vì cây cối mọc trên những tàn tích đó có cây tới cả chục người ôm, những bộ rễ ghê rợn như những con trăn khổng lồ trùm lên khắp nơi, dưới ánh chiều tà nhìn nơi đó thực sự đáng sợ.
Tới bây giờ chúng tôi mới biết đó từng là kinh đô xa xưa của Campuchia một thời hoa lệ, chứ lúc đó chúng tôi chẳng biết gọi tên nơi đó là gì chỉ biết gọi theo mục tiêu là những con số trong bản đồ tác chiến.
Nơi đó về đêm thật u ám, lạnh lẽo và ma quái, gió rừng rì rà rì rầm suốt đêm như tiếng rất nhiều người lầm rầm cầu nguyện gì đó, rõ nhất là tiếng ngựa hý và tiếng kèn gì đó nghe như tiếng còi tàu biển u u, um um rất khó chịu…
Ở đó chỉ hai đêm, thật lòng ngoài âm thanh thì tôi không nhìn thấy thứ gì khác lạ, nhưng hai đồng đội của tôi đêm gác chung thì tới sáng có kể lại họ nhìn thấy rất nhiều những bóng đen lố nhố im lìm vật vờ xung quanh nơi chúng tôi ngủ, tới gần sáng hai người dậy nấu cơm cũng noí có rất nhiều bóng đen lập lờ trong ánh lửa… tôi không biết anh em có nhìn lầm không, chứ còn lúc đó chúng tôi không lôi những chuyện như vậy ra trêu đùa hay dọa dẫm nhau.
Tôi vẫn có thói quen khi ăn trong những khu rừng hay khu tàn tích đó thường cúi đầu hay rắc chút cơm ra xung quanh mời “họ”… Và nồi cơm hôm đó nhão nhoẹt và nhạt nhẽo rất khó ăn, chỗ như cháo chỗ thì còn thấy cả hột gạo đỏ quạch.
Xung quanh khu đó có một con suối rất to, có đoạn to như con sông, những anh từng sống nơi đó kể lại, rất nhiều người bị “lôi kéo” xuống con suối đó, khi vượt suối chúng tôi thận trọng thăm dò cẩn thận, không ai thấy điều gì dị thường, chỉ có làn nước lạnh buốt…
Nhiều anh em kể lại vào đêm trăng, có rất nhiều các cô gái bơi lội ở đó, ở đó vẫn còn những thềm đá ong rất rộng ngay sát suối, cỏ rêu mọc xanh rì…
Đêm trăng sáng vằng vặc nhìn nơi đó và nghe âm thanh từ rừng già vọng ra người cứng bóng vía cũng phải nổi gai ốc.
Vào lúc chiều tà còn nhiều tiếng boong boong nghe như tiếng chiêng cồng hay chuông chùa vọng từ đâu đó trong rừng già lại, kỳ thực là nơi đó chẳng còn gì nguyên vẹn, đừng nói tới một ngôi chùa.
Có một điều khó quên dù chỉ trải qua hai ba ngày đêm đi qua nơi đó… đó là những cơn gió lạnh từ đâu đó bất chợt làm tất cả rùng mình nhưng cây cối thì không hề lay động, và người chúng tôi nổi gai liên tục, với cảm giác âm u, u ám khó chịu.
Ngọn núi Bokor hay còn gọi là Tà lơn.
(Câu chuyện của tôi ở ngọn núi này rất khó hiểu và khó tin, ngay với cả bản thân tôi, cho tới tận bây giờ, nên nếu có bạn nào nói nó hoang đường xin bỏ qua nhé.)
Tôi chưa bao giờ có ý định “câu like” qua những bài viết trên trang.
Chỉ là kể lại mọi người đọc cho đỡ buồn thôi…
Khi tôi đến ngọn núi này, đó là tầm cuối năm 99, tôi vừa rời bom đạn và những cánh rừng chết chóc để tới đây, không phải như khái niệm “du lịch” như bây giờ, vì lúc đó nơi này hoang sơ và… rậm rịt, gần như không có dân ở, dù năm 93 Vua Shihanouk đã cho thành lập thành một khu bảo tồn quốc gia rộng lớn gần như hết cả núi này.
Năm đó tôi đến núi không phải vì công việc, mà vì một việc của cá nhân, tôi muốn tìm gặp một người ở núi để mong được giải đáp một số câu hỏi.
Người đó tôi chưa từng gặp bao giờ, chỉ nghe nói từ miệng hai người bạn đáng kính của tôi, là hai hàng binh polpot sau đó sát cánh cùng tôi trong những cánh rừng mênh mông mà tôi vừa bước ra…
Núi Tà lơn thuộc dãy Damrei, thuộc tỉnh Kam pot, nơi có cánh rừng Say với những ảo ảnh ma quái chết chóc khiến nhiều người bỏ mạng.
Tà Lơn là một ngọn núi thiêng, trên vùng đất thiêng theo người Campuchia, những người già vẫn gọi là núi U Bò, vì nó giống cái u trên lưng con bò đực.
Tôi cùng một cậu em người Cao Bằng (“chiến hữu” từ hồi đó tới giờ) và hai người bạn Campuchia, xuất phát từ Koh Kong qua Ambel, bên trái là Kam pong speu, phải là cảng Sihanoukville… không theo đường chính phía Bokou mà theo đường qua phum Butolt lên núi, ngọn núi này quá quen thuộc trong tầm mắt và ống nhòm của chúng tôi, nhưng đặt chân lên đó thì chưa lần nào, dù tôi đã đi dọc dãy Damrei…
Rừng ở đó không rậm và nhiều như ở Kulen, phần đa là đá trơ trụi, đá ở đây cũng không giống như ở núi đá mà nó giống như đá ở những hang động ở biển, nơi này cao hơn núi Vải và khí hậu cũng mát hơn, càng lên cao càng mát nó giống như Đà Lạt của Việt Nam.
Lúc đó cũng có khách du lịch tới nơi này, nhưng những người du lịch đó nhìn hơi dị thường, họ thường đi đơn lẻ hay tốp ba, bốn người im lặng bước, họ thuê người bản địa dẫn đường và mang vác đồ dùng lương thực.
Trước khi khơmer đỏ nắm quyền có khá nhiều người Việt Nam sống ở quanh núi và cả trên núi, nhưng sau khơmer đỏ tìm tàn sát và truy cùng diệt tận người Việt thì phần đa bị giết, còn lại chạy về Việt Nam hay qua Thái lan lánh nạn.
Tôi nghe anh bạn nói, tại ngôi chùa Năm thuyền trên núi(một ngôi chùa cổ bí ẩn với những tảng đá như những con thuyền) có một sư thầy (lục cả) gốc Việt ở đó, nhưng khi tôi lên thì không gặp…
Có rất nhiều dấu tích của người Việt ở đó, và cả điện thờ vua Hàm Nghi Việt Nam, lúc đó phải chui luồn theo những con đường nhỏ hẹp cheo leo từ chùa Năm thuyền để tới…
Rất nhiều miếu, am, điện thờ trong núi, đường đi khó khăn cây cối rậm rịt, thú to như gấu, heo rừng, hoẵng… vẫn còn.
Ngọn núi này rất nhiều cây tùng to, nhiều cây hình thù cổ quái lạ lùng.
Tôi tới tận khu mộ đá người Việt, có chừng 2 đến 3 chục ngôi mộ, đắp bằng những hòn đá to, theo anh bạn dẫn đường nói thì đó là mộ những người Việt lên đó tu hành, ngồi thiền rồi bỏ mạng lại… tôi cũng khó hình dung rằng giữa nơi hoang vu này đầy rẫy rắn rết (rất nhiều rắn độc to khủng) và không có người dân ở thì họ sinh sống bằng cách nào, nghe nói có nhiều người tới đây ngồi thiền tới chết, người bản địa thỉnh thoảng vẫn gặp những bộ xương khô ngồi xếp bằng trong những khe núi, hang nhỏ hay ngay kế những gốc cây, tảng đá…
Cũng theo người dẫn đường kể thì thỉnh thoảng có những người lên đây tu hành hoặc ngồi thiền rồi không hiểu sao họ hóa điên, đi lang thang lẩn quất trong rừng, trong những bãi đá như những bóng ma, thỉnh thoảng họ hét lên hay cười lanh lảnh trong đêm vắng vang vọng…
Sở dĩ tôi chọn tháng 9 và cố lên nơi đó vào tháng 9 vì theo lời anh bạn tôi nói, đó là mùa lễ vạt sa của những người tu hành.
Lễ vạt sa nôm na như một thang bậc lên cấp cho những người tu hành. Người tu hành ở đây không phải là những người tu hành như trong Phật giáo, mà là người tu hành kiểu đạo sĩ, pháp sư, những “dị nhân” của giới huyền thuật, bùa chú…
Chúng tôi đã lang thang trong núi gần 10 ngày, lúc lương thực cạn kiệt mới đành xuống núi.
Ngày tr